GIÁO DỤC LÀ GÌ?



Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere”. Có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn.
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người”. Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó.
Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Ngoài ra, ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy. Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ.
Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội. Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội.
 Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác;…
Thực chất định nghĩa lại giáo dục là quá trình nhận thức lại vai trò của các chủ thể trong giáo dục: từ Nhà nước đến nhà trường, từ người dạy đến người học. Hiện nay, chúng ta đang nỗ lực hết sức để canh tân giáo dục nhằm tạo ra những con người mong muốn. Nhưng liệu hiện chúng ta đã xác định đúng vai trò của mỗi chủ thể giáo dục hay chưa? Các chủ thể giáo dục có “đá lộn sân” nhau hay không?
Và nếu đã xác định đúng thì các chủ thể giáo dục liệu có đang thực hiện tốt vai trò của mình?... Khi những câu hỏi này được trả lời một cách thỏa đáng thì đó cũng là lúc mà nền giáo dục thật sự được canh tân.

Từ giáo dục có gốc Hán-Việt là 教育, gồm hai chữ giáo () và dục (). Chữ giáo của từ giáo dục cũng giống như chữ giáo trong các từ mẫu giáo (母教 — mẫu tức là mẹ, cô giáo như mẹ hiền), tuyên giáo (宣教 — tuyên truyền và giáo dục), giáo điều (教条), thiên chúa giáo (天主教), v.v., có nghĩa là dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn, hay cũng có thể là nhồi sọ người khác tin theo làm theo những điều gì đó.
Chữ dục của từ giáo dục có nghĩa là chăm sóc, nuôi nấng, sinh thành. Theo từ điến tiếng Hán, thì gốc tượng hình của chữ dục này là một bà mẹ sinh con. Chữ dục này còn có trong từ thể dục (體育 hay 体育). Chú ý là chữ dục (欲) trong các từ như nhục dục (肉欲), dục vọng (欲望) có nghĩa là sự ham muốn thèm khát, hoàn toàn khác với chữ dục trong từ giáo dục.
Nói tóm lại, từ giáo dục theo gốc Hán Việt có nghĩa là chỉ bảo dạy dỗ chăm sóc. Nó bao gồm không chỉ việc dạy học (giáo), mà có cả sự thương yêu quan tâm chăm sóc (dục) trong đó.
Từ giáo dục dịch sang tiếng phương Tây thành education (tiếng Anh), éducation (Pháp), educazione (Ý), v.v., đại loại có cùng mấy chữ đầu là educa. Gốc latin của nó là các từ educatio (danh từ) và educare (động từ). Educare cũng có nghĩa là nuôi nấng dậy dỗ (to bring up).

Có một số người cho rằng gốc Latin của từ education là từ educere (chứ không phải educare). Động từ educere có nghĩa là “to draw out, to lead out”, tức là làm phát triển, “lôi ra” các khả năng tiềm ẩn đã có trong người. Tuy nhiên, theo quyển sách nổi tiếng về triết lý giáo dục “La philosophie de l’éducation” của Olivier Reboul (in lần thứ 9 năm 2006), thì cách hiểu như vậy không chính xác. Từ education có gốc là educare chứ không phải educere. Hai từ educare và educere gần nhau nhưng nghĩa khác nhau khá nhiều. Nếu hiểu giáo dục chỉ đơn thuần là “lôi ra” những khả năng đã có, thì nghĩa đó của giáo dục quả là hạn chế.
Trong tiếng Nga, từ giáo dục không viết thành educa* như phương Tây, mà viết là образование (obrazovanie). Từ образование ngoài nghĩa giáo dục còn có một nghĩa khác là “sự hình thành”. Chẳng hạn khi nói “ОБРАЗОВАНИЕ СССР” thì tức là nói về sự hình thành nước Liên Xô (trong quãng những năm 1922-1924). “Sự hình thành” cũng là một đặc trưng của giáo dục: để tạo thành (nhân cách và năng lực của) con người.
Ngoài từ образование, tiếng Nga còn có một từ khác để chỉ giáo dục (chủ yếu dành cho trẻ em), là từ воспитание (vospitanie, dịch sang tiếng Anh thành upbringing), ví dụ như từ “thể dục” tiếng Nga là “fizicheskoe vospitanie”.
Ở phần lớn các nước trên thế giới, từ “giáo dục” được dùng cho cả bậc phổ thông (tiểu học, trung học) và bậc đại học (higher education, éducation supérieure, высшее образование). Tuy nhiên, không hiểu sao, ở Việt Nam hiện tại từ “giáo dục” không được dùng cho bậc đại học, mà thay vào đó là từ “đào tạo” (training). Nghĩa của từ đào tạo (training) hạn chế hơn từ giáo dục: nó mang tính chất chuyên môn, nhằm đạt một kỹ năng cụ thể cho một loại công việc cụ thể nào đó. Trong khi đó, từ “giáo dục” mang hàm ý rộng hơn, không chỉ nhằm đào tạo theo một chuyên môn hẹp, mà còn xây dựng con người (với nền tảng văn hóa, lối sống, cách suy nghĩ, thể lực, bản lĩnh, giao tiếp, ý thức xã hội, v.v.). Từ “university” (đại học tổng hợp) theo tinh thần của Humboldt phải là nơi giáo dục không chỉ về một chuyên môn hẹp (để làm việc kiếm sống) mà còn là nơi hình thành một con người văn minh (để sống) như vậy.

Người ta có thể “được đào tạo” nhưng vẫn “vô giáo dục”, hay nói cách khác là “mất dạy”. Khi nói “vô giáo dục”, không có nghĩa là kém về kỹ năng hay kiến thức chuyên môn, mà là kém về nhân cách hay về cách cư xử trong xã hội. Các nước khác cũng có những từ như “mal éduqué” hay “mal élevé” (Pháp), nevospitannyi (Nga), ill-bred (Anh) để chỉ những người tư cách kém, có thể dịch là “vô giáo dục” hay “mất dạy”. Chú ý là những từ như uneducated (tiếng Anh, hay còn có lúc viết là ill-educated), neobrazovannyi hay neobuchennyi (tiếng Nga) không có nghĩa là “vô giáo dục”, “mất dạy” (kém nhân cách, không tử tế), mà có nghĩa là “thất học”, kém hiểu biết do không được học, không được đào tạo. Người ta có thể thất học, kém hiểu biết nhưng vẫn là người tử tế, có nhân cách. Họ có thể không được học ở trường, nhưng vẫn được hưởng một sự giáo dục ở nhà.

Nhận xét